luật hôn nhân và gia đình năm 1992

1 Chỉ thị 15/2000/CT-TTg thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 do Thủ tướng Chính phủ ban hành; 2 Công văn về việc giải đáp bổ sung một số vấn đề áp dụng pháp luật; 3 Nghị định 184-CP năm 1994 về thủ tục kết hôn, nhận con ngoài giá thú, nuôi con nuôi, nhận đỡ đầu giữa công dân Việt Nam và người Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây: 1. Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên; 2. Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định; 3. Không bị mất năng lực hành vi dân sự; 4. Luật Hôn nhân và gia đình 2014 Ban hành: 19/06/2014 | Cập nhật: 08/07/2014. Luật Hôn nhân và gia đình 1986 Ban hành: 29/12/1986 | Cập nhật: 17/09/2012. Pháp lệnh hôn nhân và Gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài năm 1993 Ban hành: 02/12/1993 | Cập nhật: 08/01/2010. Địa chỉ: Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, tự mình hoặc phối hợp tổ chức việc rà soát các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình hiện hành để huỷ bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới, đề nghị Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội huỷ bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới cho phù Căn cứ vào Điều 84 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992; QUYẾT NGHỊ. 1. Luật hôn nhân và gia đình của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 09 tháng 6 năm 2000 được gọi là Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. 2. mengapa penulisan karya ilmiah harus relevan dengan disiplin ilmu penelitian. QUỐC HỘI ******** CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ******** Số 21-LCT/HĐNN7 Hà Nội, ngày 29 tháng 12 năm 1986 LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH Gia đình là tế bào của xã hội. Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt. Trong gia đình xã hội chủ nghĩa, vợ chống bình đẳng, thương yêu, giúp đỡ nhau tiến bộ, tham gia tích cực vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, cùng nhau nuôi dạy con thành những công dân có ích cho xã hội. Kế thừa và phát triển Luật hôn nhân và gia đình năm 1959, để tiếp tục xây dựng và củng cố gia đình xã hội chủ nghĩa, giữ gìn và phát huy những phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc, xoá bỏ những tục lệ lạc hậu, những tàn tích của chế độ hôn nhân và gia đình phòng kiến, chống ảnh hưởng của chế độ hôn nhân và gia đình tư sản ; Căn cứ vào Điều 64 và Điều 65 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ; Luật này quy định chế độ hôn nhân và gia đình. Chương 1 NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1 Nhà nước bảo đảm thực sự chế độ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, nhằm xây dựng gia đình dân chủ, hoà thuận, hạnh phúc, bền vững. Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc các tôn giáo khác nhau, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo được tôn trọng và bảo vệ. Điều 2 Vợ chồng có nghĩa vụ thực hiện sinh đẻ có kế hoạch. Cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con thành những công dân có ích cho xã hội. Con có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ. Điều 3 Nhà nước và xã hội bảo vệ bà mẹ và trẻ em, giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ. Điều 4 Cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, yêu sách của cải trong việc cưới hỏi ; cấm cưỡng ép ly hôn. Cấm người đang có vợ, có chồng kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác. Cấm ngược đãi, hành hạ cha, mẹ, vợ, chồng, con cái. Chương 2 KẾT HÔN Điều 5 Nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên mới được kết hôn. Điều 6 Việc kết hôn do nam nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc bên nào, không ai được cưỡng ép hoặc cản trở. Điều 7 Cấm kết hôn trong những trường hợp sau đây a Đang có vợ hoặc có chồng ; b Đang mắc bệnh tâm thần không có khả năng nhận thức hành vi của mình ; đang mắc bệnh hoa liễu ; c Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ ; giữa anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha ; giữa những người khác có họ trong phạm vi ba đời ; d Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi. Điều 8 Việc kết hôn do Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi thường trú của một trong hai người kết hôn công nhận và ghi vào sổ kết hôn theo nghi thức do Nhà nước quy định. Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau ở ngoài nước do cơ quan đại diện ngoại giao của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận. Mọi nghi thức kết hôn khác đều không có giá trị pháp lý. Điều 9 Việc kết hôn vi phạm một trong các Điều 5, 6, 7 của Luật này là trái pháp luật. Một hoặc hai bên đã kết hôn trái pháp luật, vợ, chồng hoặc con của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác, Viện kiểm sát nhân dân, Hội liên hiệp phụ nữa Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn Việt Nam có quyền yêu cầu Toà án nhân dân huỷ việc kết hôn trái pháp luật. Tài sản của những người mà hôn nhân bị huỷ được giải quyết theo nguyên tắc tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc quyền sở hữu của người ấy ; tài sản chung được chia căn cứ vào công sức đóng góp của mỗi bên ; quyền lợi chính đáng của bên bị lừa dối hoặc bị cưỡng ép kết hôn được bảo vệ. Quyền lợi của con được giải quyết như trong trường hợp cha mẹ ly hôn. Chương 3 NGHĨA VỤ VÀ QUYỀN CỦA VỢ, CHỒNG Điều 10 Vợ, chồng có nghĩa vụ và quyền ngang nhau về mọi mặt trong gia đình. Điều 11 Vợ, chồng có nghĩa vụ chung thuỷ với nhau, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau tiến bộ, cùng nhau thực hiện sinh đẻ có kế hoạch. Chồng có nghĩa vụ tạo điều kiện cho vợ thực hiện tốt chức năng của người mẹ. Điều 12 Vợ, chồng có quyền tự do chọn nghề nghiệp chính đáng, tham gia các công tác chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội. Điều 13 Chỗ ở của vợ chồng do vợ chồng lựa chọn, không bị ràng buộc bởi phong tục, tập quán. Điều 14 Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra, thu nhập về nghề nghiệp và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được cho chung. Điều 15 Tài sản chung được sử dụng để bảo đảm những nhu cầu chung của gia đình. Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản chung. Việc mua bán, đổi, cho, vay, mượn, và những giao dịch khác có quan hệ đến tài sản mà có giá trị lớn thì phải được sự thoả thuận của vợ, chồng. Điều 16 Đối với tài sản mà vợ hoặc chồng có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng hoặc được cho riêng trong thời kỳ hôn nhân thì người có tài sản đó có quyền nhập hoặc không nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng. Điều 17 Khi một bên chết trước, nếu cần chia tài sản chung của vợ chồng thì chia đôi. Phần tài sản của người chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế. Vợ, chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau. Điều 18 Khi hôn nhân tồn tại, nếu một bên yêu cầu và có lý do chính đáng, thì có thể chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định ở Điều 42 của Luật này. Chương 4 NGHĨA VỤ VÀ QUYỀN CỦA CHA MẸ VÀ CON Điều 19 Cha mẹ có nghĩa vụ thương yêu, nuôi dưỡng, giáo dục con, chăm lo việc hoặc tập và sự phát triển lành mạnh của con về thể chất, trí tuệ và đạo đức. Cha mẹ không được phân biệt đối xử giữa các con. Cha mẹ phải làm gương tốt cho con về mọi mặt, và phối hợp chặt chẽ với nhà trường và các tổ chức xã hội trong việc giáo dục con. Điều 20 Cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dưỡng con đã thành niên mà không có khả năng lao động để tự nuôi mình. Điều 21 Các con có nghĩa vụ và quyền ngang nhau trong gia đình. Con có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, lắng nghe những lời khuyên bảo của cha mẹ. Điều 22 Con đã thành niên còn ở chung với cha mẹ có quyền lựa chọn nghề nghiệp, tham gia các công tác chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội. Điều 23 Con có quyền có tài sản riêng. Con từ 16 tuổi trở lên còn ở chung với cha mẹ có nghĩa vụ chăm lo đời sống chung của gia đình, và nếu có thu nhập riêng thì phải đóng góp vào nhu cầu của gia đình. Điều 24 Cha mẹ đại diện cho con chưa thành niên trước pháp luật. Cha mẹ quản lý tài sản của con chưa thành niên. Điều 25 Cha mẹ chịu trách nhiệm bồi thường các thiệt hại do hành vi trái pháp luật của con dưới 16 tuổi gây ra. Trong trường hợp cha mẹ không có khả năng mà con có tài sản riêng thì lấy tài sản của con để bồi thường. Con chưa thành niên từ 16 tuổi trở lên chịu trách nhiệm bồi thường bằng tài sản riêng của mình đối với các thiệt hại do hành vi trái pháp luật của mình gây ra. Nếu con không có tài sản riêng thì cha mẹ phải bồi thường. Điều 26 Người cha, người mẹ nào bị xử phạt về một trong các tội xâm phạm thân thể, nhân phẩm của con chưa thành niên, ngược đãi nghiêm trọng hoặc hành hạ con chưa thành niên, thì có thể bị Toà án nhân dân quyết định không cho trông giữ, giáo dục con, quản lý tài sản của con hoặc đại diện cho con trong thời hạn từ một năm đến năm năm. Đối với người đã sửa chữa, Toà án nhân dân có thể rút ngắn thời hạn này. Người cha, người mẹ nói trên vẫn có nghĩa vụ đóng góp phí tổn nuôi dạy con. Điều 27 Ông, bà có nghĩa vụ nuôi dưỡng, giáo dục cháu chưa thành niên trong trường hợp cháu không còn cha mẹ. Cháu đã thành niên có nghĩa vụ nuôi dưỡng ông bà trong trường hợp ông bà không còn con. Anh chị em có nghĩa vụ đùm bọc lẫn nhau trong trường hợp không còn cha mẹ. Chương 5 XÁC ĐỊNH CHA, MẸ CHO CON Điều 28 Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ đó là con chung của vợ chồng. Trong trường hợp có yêu cầu xác định lại vấn đề này thì phải có chứng cứ khác. Điều 29 Người được khai là cha, là mẹ một đứa trẻ có thể xin xác định đứa trẻ đó không phải là con mình. Người không được khai là cha, là mẹ một đứa trẻ có thể xin xác định đứa trẻ đó là con của mình. Điều 30 Việc cha mẹ nhận con ngoài giá thú do Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi thường trú của người con công nhận và ghi vào sổ khai sinh. Điều 31 Con ngoài giá thú có quyền xin nhận cha, mẹ kể cả trong trường hợp cha. mẹ đã chết. Người mẹ, người cha hoặc người đỡ đầu có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ cho người con ngoài giá thú chưa thành niên. Viện kiểm sát nhân dân, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn Việt Nam có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ cho người con ngoài giá thú chưa thành niên. Điều 32 Con ngoài giá thú được cha, mẹ nhận hoặc được Toà án nhân dân cho nhận cha, mẹ có mọi quyền và nghĩa vụ như con trong giá thú. Điều 33 Các tranh chấp về nhận con, nhận cha, mẹ do Toà án nhân dân nơi thường trú của người con xét xử. Chương 6 NUÔI CON NUÔI Điều 34 Việc nuôi con nuôi nhằm gắn bó tình cảm giữa người nuôi và con nuôi trong quan hệ cha mẹ và con cái, bảo đảm người con nuôi chưa thành niên được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục tốt. Giữa người nuôi và con nuôi có những nghĩa vụ và quyền của cha mẹ và con quy định ở các Điều từ 19 đến 25 của Luật này. Điều 35 Người từ 15 tuổi trở xuống mới được nhận làm con nuôi. Trong trường hợp con nuôi là thương binh, người tàn tật hoặc làm con nuôi người già yếu cô đơn thì con nuôi có thể trên 15 tuổi. Người nuôi phải hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên. Điều 36 Việc nhận nuôi con nuôi phải được sự thoả thuận của hai vợ chồng người nuôi, của cha mẹ đẻ hoặc người đỡ đầu của người con nuôi chưa thành niên. Nếu nhận nuôi người từ 9 tuổi trở lên thì còn phải được sự đồng ý của người đó. Điều 37 Việc nhận nuôi con nuôi do Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi thường trú của người nuôi hoặc con nuôi công nhận và ghi vào sổ hộ tịch. Điều 38 Nhà nước và xã hội khuyến khích việc nhận các trẻ em mồ côi làm con nuôi. Con liệt sĩ được nhận làm con nuôi vẫn hưởng mọi quyền lợi của con liệt sĩ. Điều 39 Việc nuôi con nuôi có thể chấm dứt khi người nuôi hoặc con nuôi hoặc cả hai người có hành vi nghiêm trọng xâm phạm thân thể, nhân phẩm của nhau hoặc những hành vi khác làm cho tình cảm giữa người nuôi và con nuôi không còn nữa. Việc chấm dứt nuôi con nuôi do Toà án nhân dân quyết định theo yêu cầu của con nuôi hoặc của người nuôi. Trong trường hợp người con nuôi chưa thành niên thì cha mẹ đẻ hoặc người đỡ đầu của con nuôi, Viện kiểm sát nhân dân, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn Việt Nam có quyền yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi. Chương 7 LY HÔN Điều 40 Khi vợ hoặc chồng, hoặc cả hai vợ chồng có đơn xin ly hôn thì Toà án nhân dân tiến hành điều tra và hoà giải. Trong trường hợp cả hai vợ chồng xin ly hôn, nếu hoà giải không thành và nếu xét đúng là hai bên thật sự tự nguyện ly hôn, thì Toà án nhân dân công nhận cho thuận tình ly hôn. Trong trường hợp một bên vợ hoặc chồng xin ly hôn, nếu hoà giải không thành thì Toà án nhân dân xét xử. Nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Toà án nhân dân xử cho ly hôn. Điều 41 Trong trường hợp vợ có thai, chồng chỉ có thể xin ly hôn sau khi vợ đã sinh con được một năm. Điều hạn chế này không áp dụng đối với việc xin ly hôn của người vợ. Điều 42 Khi ly hôn, việc chia tài sản do hai bên thoả thuận, và phải được Toà án nhân dân công nhận. Nếu hai bên không thoả thuận được với nhau thì Toà án nhân dân quyết định. Việc chia tài sản khi ly hôn, về nguyên tắc, phải theo những quy định dưới đây a Tài sản riêng của bên nào thì vẫn thuộc quyền sở hữu của bên ấy; b Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, nhưng có xem xét một cách hợp lý đến tình hình tài sản, tình trạng cụ thể của gia đình và công sức đóng góp của mỗi bên; c Trong trường hợp vợ chồng do còn sống chung với gia đình mà tài sản của bản thân vợ chồng không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình, căn cứ vào công sức của người được chia đóng góp vào việc duy trì và phát triển khối tài sản chung, cũng như vào đời sống chung của gia đình. Lao động trong gia đình được coi như lao động sản xuất; d Khi chia tài sản, phải bảo vệ quyền lợi của người vợ và của người con chưa thành niên, bảo vệ lợi ích chính đáng của sản xuất và nghề nghiệp. Điều 43 Khi ly hôn, nếu bên túng thiếu yêu cầu cấp dưỡng thì bên kia phải cấp dưỡng theo khả năng của mình. Khoản cấp dưỡng và thời gian cấp dưỡng do hai bên thoả thuận. Nếu hai bên không thoả thuận được với nhau thì Toà án nhân dân quyết định. Khi hoàn cảnh thay đổi, người được cấp dưỡng hoặc người phải cấp dưỡng có thể yêu cầu sửa đổi mức hoặc thời gian cấp dưỡng. Nếu người cấp dưỡng kết hôn với người khác thì không được cấp dưỡng nữa. Điều 44 Vợ chồng đã ly hôn vẫn có mọi nghĩa vụ và quyền đối với con chung. Điều 45 Khi ly hôn, việc giao con chưa thành niên cho ai trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Về nguyên tắc, con còn bú được giao cho người mẹ nuôi giữ. Người không nuôi giữ con có nghĩa vụ và quyền thăm nom, chăm sóc con và phải đóng góp phí tổn nuôi dưỡng, giáo dục con. Nếu trì hoãn hoặc lẩn tránh việc đóng góp, thì Toà án nhân dân quyết định khấu trừ vào thu nhập hoặc buộc phải nộp những khoản phí tổn đó. Vì lợi ích của con, khi cần thiết, có thể thay đổi việc nuôi giữ con hoặc mức đóng góp phí tổn nuôi dưỡng, giáo dục con. Chương 8 CHẾ ĐỘ ĐỠ ĐẦU Điều 46 Việc đỡ đầu được thực hiện trong trường hợp cần bảo đảm việc chăm nom, giáo dục và bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niên mà cha mẹ đã chết, hoặc tuy cha mẹ còn sống nhưng không có điều kiện để làm những nhiệm vụ đó. Điều 47 Cha mẹ có thể cử người đỡ đầu cho con chưa thành niên. Nếu cha mẹ không cử được thì những người thân thích có thể cử người đỡ đầu cho người đó. Việc cử người đỡ đầu do Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn công nhận. Trong trường hợp cha mẹ hoặc những người thân thích không cử được người đỡ đầu thì cơ quan Nhà nước có chức năng hoặc tổ chức xã hội đảm nhiệm việc đỡ đầu người con chưa thành niên. Điều 48 Công dân làm người đỡ đầu phải là người từ 21 tuổi trở lên, có tư cách đạo đức tốt và có điều kiện thực tế để làm người đỡ đầu. Điều 49 Công dân hoặc tổ chức làm người đỡ đầu có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây a Chăm sóc, giáo dục người được đỡ đầu; b Quản lý tài sản của người được đỡ đầu; c Đại diện cho người được đỡ đầu trước pháp luật và bảo vệ quyền lợi của người đó. Điều 50 Công dân làm người đỡ đầu chịu sự giám sát của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn về công việc đỡ đầu. Người thân thích của người được đỡ đầu, Viện kiểm sát nhân dân, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn Việt Nam có quyền yêu cầu Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn thay người đỡ đầu, nếu người này không làm tròn nhiệm vụ, gây thiệt hại nghiêm trọng đến quyền lợi của người đỡ đầu. Công dân làm người đỡ đầu có thể yêu cầu cử người thay, nếu thấy mình không còn đủ điều kiện làm người đỡ đầu. Điều 51 Việc đỡ đầu chấm dứt khi người chưa thành niên được giao lại cho cha mẹ, được nhận làm con nuôi, hoặc đủ 18 tuổi. Chương 9 QUAN HỆ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CỦA CÔNG DÂN VIỆTNAM VỚI NGƯỜI NƯỚC NGOÀI Điều 52 Trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên tuân theo những quy định của pháp luật nước mình về kết hôn. Nếu việc kết hôn giữa công dân ViệtNam với người nước ngoài tiến hành ở ViệtNam thì người nước ngoài còn phải tuân theo các quy định ở Điều 5, Điều 6, Điều 7 của Luật này. Thủ tục kết hôn do Hội đồng bộ trưởng quy định. Điều 53 Những vấn đề về quan hệ vợ chồng, quan hệ tài sản, quan hệ cha mẹ và con, huỷ việc kết hôn, ly hôn, nuôi con nuôi và đỡ đầu giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài do Hội đồng Nhà nước quy định. Điều 54 Trong trường hợp đã có hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về hôn nhân và gia đình giữa Việt Nam và nước ngoài, thì tuân theo những quy định của các hiệp định đó. Chương 10 ĐIỀU KHOẢN CUỐI CÙNG Điều 55 Đối với dân tộc thiểu số, Hội đồng Nhà nước căn cứ Luật này và tình hình cụ thể mà có những quy định thích hợp. Điều 56 Hội đồng bộ trưởng, Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, trong phạm vi chức năng của mình, có trách nhiệm hướng dẫn thi hành Luật này. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn Việt Nam giáo dục, vận động nhân dân thi hành nghiêm chỉnh Luật này. Điều 57 Luật này thay thế Luật hôn nhân và gia đình năm 1959. Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VII, kỳ họp thứ 12, thông qua ngày 29 tháng 12 năm 1986. CHÍNH PHỦ ********CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ********Số 77/2001/NĐ-CPHà Nội, ngày 22 tháng 10 năm 2001NGHỊ ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 77/2001/NĐ-CP NGÀY 22 THÁNG 10 NĂM 2001 QUY ĐỊNH CHI TIẾT VỀ ĐĂNG KÝ KẾT HÔN THEO NGHỊ QUYẾT SỐ 35/2000/QH10 CỦA QUỐC HỘI VỀ VIỆC THI HÀNH LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNHCHÍNH PHỦCăn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992; Căn cứ Luật Hôn nhân và gia đình ngày 09 tháng 6 năm 2000; Căn cứ Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09 tháng 6 năm 2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình; Để tăng cường quản lý nhà nước trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tiến tới xoá bỏ tình trạng hôn nhân không đăng ký, khuyến khích xác lập quan hệ hôn nhân hợp pháp; Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp,NGHỊ ĐỊNHChương 1NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNGĐiều 1. Phạm vi điều chỉnh1. Nghị định này quy định chi tiết về đăng ký kết hôn đối vớia Các trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03 tháng 01 năm 1987, ngày Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực pháp luật, mà chưa đăng ký kết hôn;b Các trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến ngày 01 tháng 01 năm 2001, ngày Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực pháp luật, mà chưa đăng ký kết Quy định tại khoản 1 Điều này bao gồm cả các trường hợp giữa một bên là công dân Việt Nam và một bên là công dân của nước láng giềng có chung đường biên giới với Việt Nam đã sinh sống ổn định, lâu dài tại Việt Nam; các trường hợp giữa một bên là công dân Việt Nam và một bên là người không quốc tịch thường trú tại Việt Nam hoặc cả hai bên đều là người không quốc tịch thường trú tại Việt không quốc tịch thường trú tại Việt Nam nói tại khoản này là người không có quốc tịch Việt Nam và cũng không được các nước khác thừa nhận có quốc tịch nước đó, đang làm ăn và sinh sống ổn định, lâu dài ở Việt 2. Khuyến khích đăng ký kết hôn và nghĩa vụ đăng ký kết hôn1. Những trường hợp quan hệ vợ chồng xác lập trước ngày 03 tháng 01 năm 1987, mà chưa đăng ký kết hôn, thì được Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện thuận tiện cho đăng ký kết hôn. Việc đăng ký kết hôn đối với những trường hợp này không bị hạn chế về thời Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến ngày 01 tháng 01 năm 2001 mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn. Từ sau ngày 01 tháng 01 năm 2003 mà họ không đăng ký kết hôn, thì pháp luật không công nhận họ là vợ 3. Công nhận ngày hôn nhân có hiệu lựcQuan hệ hôn nhân của những người đăng ký kết hôn theo quy định tại Nghị định này, được công nhận kể từ ngày các bên xác lập quan hệ vợ chồng hoặc chung sống với nhau như vợ chồng trên thực tế. Ngày công nhận hôn nhân có hiệu lực phải được ghi rõ trong Sổ đăng ký kết hôn và Giấy chứng nhận kết hôn theo hướng dẫn của Bộ Tư 4. Miễn lệ phí đăng ký kết hônViệc đăng ký kết hôn đối với các trường hợp quy định tại Nghị định này được miễn lệ 2THỦ TỤC ĐĂNG KÝ KẾT HÔNĐiều 5. Thẩm quyền và thủ tục đăng ký kết hôn1. Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn sau đây gọi là Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của một trong hai bên, thực hiện việc đăng ký kết trường hợp cả hai bên không có hộ khẩu thường trú, nhưng có đăng ký tạm trú có thời hạn theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ khẩu, thì ủy ban nhân dân cấp xã, nơi một trong hai bên đăng ký tạm trú có thời hạn, thực hiện việc đăng ký kết Khi đăng ký kết hôn, các bên chỉ cần làm Tờ khai đăng ký kết hôn và xuất trình Giấy chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ hợp lệ thay Tờ khai đăng ký kết hôn, các bên ghi bổ sung ngày, tháng, năm xác lập quan hệ vợ chồng hoặc chung sống với nhau như vợ chồng trên thực tế. Trong trường hợp vợ chồng không cùng xác định được ngày, tháng xác lập quan hệ vợ chồng hoặc chung sống với nhau như vợ chồng trên thực tế, thì cách tính ngày, tháng như sauNếu xác định được tháng mà không xác định được ngày, thì lấy ngày 01 của tháng tiếp theo;Nếu xác định được năm mà không xác định được ngày, tháng, thì lấy ngày 01 tháng 01 của năm tiếp 6. Giải quyết việc đăng ký kết hôn đối với quan hệ vợ chồng xác lập trước ngày 03 tháng 01 năm 1987Trong trường hợp hai vợ chồng cùng thường trú hoặc tạm trú có thời hạn tại nơi đăng ký kết hôn, thì Uỷ ban nhân dân thực hiện việc đăng ký kết hôn ngay sau khi nhận Tờ khai đăng ký kết trường hợp một trong hai bên không thường trú hoặc tạm trú có thời hạn tại nơi đăng ký kết hôn, nhưng Uỷ ban nhân dân biết rõ về tình trạng hôn nhân của họ, thì cũng giải quyết đăng ký kết hôn ngay. Khi có tình tiết chưa rõ các bên có vi phạm quan hệ hôn nhân một vợ, một chồng hay không, thì Uỷ ban nhân dân yêu cầu họ làm giấy cam đoan và có xác nhận của ít nhất hai người làm chứng về nội dung cam đoan đó. Người làm chứng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác của lời 7. Giải quyết việc đăng ký kết hôn đối với trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến ngày 01 tháng 01 năm 2001Trong trường hợp một trong hai bên kết hôn không có hộ khẩu thường trú hoặc tạm trú có thời hạn tại nơi đăng ký kết hôn, thì Tờ khai đăng ký kết hôn phải được cơ quan, đơn vị nơi đang công tác đối với cán bộ, công chức, người đang phục vụ trong lực lượng vũ trang hoặc Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú hoặc tạm trú có thời hạn xác nhận về tình trạng hôn nhân của người đó. Nếu cả hai bên cùng thường trú hoặc tạm trú có thời hạn tại nơi đăng ký kết hôn, thì không cần sự xác nhận nói khi nhận Tờ khai đăng ký kết hôn, Uỷ ban nhân dân kiểm tra, nếu các bên đã đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, thì đăng ký kết hôn ngay. Khi có tình tiết chưa rõ là một trong hai bên hoặc cả hai bên có đủ điều kiện kết hôn hay không, thì Uỷ ban nhân dân yêu cầu họ làm giấy cam đoan và có xác nhận của ít nhất hai người làm chứng về nội dung cam đoan đó. Người làm chứng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác của lời 8. Địa điểm đăng ký kết hônĐể tạo điều kiện thuận tiện cho các bên kết hôn, việc đăng ký kết hôn có thể được thực hiện tại trụ sở Uỷ ban nhân dân hoặc tại thôn, bản, tổ dân phố theo kế hoạch của Uỷ ban nhân dân cấp 9. Công nhận con chung của vợ chồngCon sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn của các trường hợp quy định tại Điều 1 Nghị định này và được cha mẹ thừa nhận cũng là con chung của vợ trong Sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh của người con vẫn bỏ trống phần ghi về người cha, thì Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi đã đăng ký khai sinh, căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn của cha mẹ để ghi bổ sung về người cha vào Sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh của người con, đồng thời gạch bỏ phần ghi chú "con ngoài giá thú" trong Sổ đăng ký khai 3ĐIỀU KHOẢN THI HÀNHĐiều 10. Trách nhiệm của Bộ Tư phápBộ Tư pháp có trách nhiệm giúp Chính phủ chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc triển khai thực hiện Nghị định 11. Trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân các cấp1. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Uỷ ban nhân dân cấp huyện trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc Uỷ ban nhân dân cấp xã trong việc triển khai thực hiện Nghị định Uỷ ban nhân dân cấp xã có trách nhiệma Tuyên truyền, vận động, rà soát, lập danh sách các trường hợp cần đăng ký kết hôn theo quy định tại Nghị định này;b Tổ chức đăng ký kết hôn kịp thời, thuận tiện, chính xác cho những trường hợp quy định tại Nghị định này;c Xác nhận chính xác, kịp thời về tình trạng hôn nhân của các bên kết hôn, nếu được yêu cầu;d Bảo đảm cân đối kinh phí từ ngân sách nhà nước theo quy định hiện hành cho hoạt động đăng ký kết hôn nói tại Nghị định 12. Hiệu lực thi hành1. Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này. Ngày 16/4, Bộ Tư pháp tổ chức Hội nghị toàn quốc tổng kết thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 theo hình thức trực tuyến tại điểm cầu Hà Nội và 62 điểm cầu ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Hội nghị tập trung tổng kết thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; thảo luận chuyên đề về thực trạng thi hành Luật hôn nhân và gia đình; góp ý kiến về mục tiêu, quan điểm chỉ đạo, phạm vi và những định hướng sửa đổi Luật. Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc dự và phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị. Phó Thủ tướng nhấn mạnh Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 và Kế hoạch phát triển đất nước 2011 - 2015 đã xác định một trong ba khâu đột phá chiến lược là hoàn thiện thể chế. Với chức năng, nhiệm vụ của mình, ngành Tư pháp đã chủ động, tích cực tham mưu với Chính phủ, Quốc hội trong việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992 và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 đã đưa ra nhiều quy định tiến bộ, trong đó đặc biệt là chế định về quyền con người, quyền cơ bản của công dân. Khẳng định vai trò quan trọng của Luật hôn nhân và gia đình trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Phó Thủ tướng nêu rõ Đảng và Nhà nước luôn quan tâm tới lĩnh vực này, thể hiện ở việc đã ban hành nhiều văn bản pháp luật góp phần hoàn thiện thể chế về lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Trên cơ sở đánh giá công tác thi hành Luật hôn nhân và gia đình đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc biểu dương những cố gắng, nỗ lực của các bộ, ngành Trung ương và các địa phương, đặc biệt là Bộ Tư pháp và các cơ quan hữu quan trong việc thực hiện lĩnh vực công tác quan trọng này. Bên cạnh những kết quả đã đạt được, Phó Thủ tướng cũng thẳng thắn chỉ ra hạn chế, bất cập trong quá trình thực hiện đó là một số vấn đề đã phát sinh trong thực tiễn nhưng chưa được Luật quy định; có những quy định không cụ thể, rõ ràng dẫn tới nhiều quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình không được bảo đảm… Phó Thủ tướng cho rằng những hạn chế, bất cập này đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng công tác xây dựng, củng cố chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam, ảnh hưởng đến việc thực hiện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên có liên quan trong quan hệ hôn nhân và gia đình. Tại Hội nghị, Phó Thủ tướng đề nghị các đại biểu cần xác định rõ mục tiêu, quan điểm và những định hướng lớn trong sửa đổi, bổ sung Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Theo Phó Thủ tướng về cơ bản, những mục tiêu và quan điểm mà Ban soạn thảo Dự án Luật đã đưa ra là hợp lý. Tuy nhiên, Phó Thủ tướng đề nghị nghiên cứu, xây dựng Dự án Luật phải thể hiện được hai quan điểm quan trọng. Thứ nhất tôn trọng và bảo đảm thực hiện quyền con người, bình đẳng giới, bảo vệ bà mẹ, trẻ em, người cao tuổi và những người yếu thế khác trong quan hệ hôn nhân và gia đình. Thứ 2 bảo đảm pháp luật về hôn nhân và gia đình vừa thể hiện được các giá trị truyền thống tiến bộ, văn minh của gia đình Việt Nam vừa phù hợp với pháp luật và các giá trị chung về hôn nhân và gia đình của các nước trên thế giới, góp phần thúc đẩy hội nhập quốc tế. Phó Thủ tướng đề nghị cần rà soát, kế thừa và phát huy các quy định hiện hành và pháp luật về hôn nhân và gia đình qua các thời kỳ phát triển của đất nước; tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của các nước trong điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình, nhất là những nước có truyền thống gia đình, văn hóa và điều kiện kinh tế - xã hội phù hợp với Việt Nam. Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc lưu ý khi giải quyết các vấn đề liên quan đến quan hệ hôn nhân và gia đình cần tăng cường các giải pháp theo hướng bảo đảm cho các bên tự do lựa chọn các phương án xử sự cụ thể; tạo ra cơ chế pháp lý rõ ràng, thống nhất trong việc áp dụng phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình để giải quyết những vấn đề thực tiễn về hôn nhân và gia đình của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Phó Thủ tướng lưu ý việc xây dựng dự án Luật sửa đổi, bổ sung Luật hôn nhân và gia đình xuất phát từ nguyên tắc tôn trọng quyền con người, quyền công dân... Đề cao vai trò của gia đình trong đời sống xã hội Báo cáo tóm tắt Tổng kết thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 do Thứ trưởng Đinh Trung Tụng trình bày khẳng định Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 có tác động tích cực đến việc đề cao vai trò của gia đình trong đời sống xã hội, giữ gìn và phát huy truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Luật đã góp phần xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình tiến bộ, xây dựng chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của các thành viên trong gia đình, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam nhằm xây dựng gia đình, no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc. Báo cáo đã nêu lên những tồn tại qua quá trình thực thi pháp luật. Một số quy định của Luật còn chưa tạo ra cơ chế pháp lý hiệu quả trong điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình vốn có nhiều đặc thù so với các quan hệ dân sự khác. Một số quy định của Luật chưa thực sự phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của các quan hệ dân sự - quan hệ tư. Do đó, trong một số quan hệ, các thành viên trong hôn nhân và gia đình chưa được quyền lựa chọn phương án ứng xử tốt nhất cho gia đình và bản thân. Một số quy định của Luật có tính khả thi thấp làm cho việc công nhận, thực hiện các quyền về hôn nhân và gia đình còn gặp nhiều khó khăn. Một số quan hệ về hôn nhân và gia đình phát sinh trong thực tiễn chưa được Luật quy định hoặc Luật quy định không cụ thể, như quan hệ nam, nữ chung sống như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn; ly thân; mang thai hộ… Luật còn có những quy định chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn giao lưu dân sự, hội nhập quốc tế của Việt Nam, như quy định về tài sản của vợ chồng tham gia đầu tư, sản xuất, kinh doanh; quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài… Ba vấn đề phát sinh trong thực tiễn chưa được pháp luật quy định Vấn đề thứ nhất về chế độ tài sản của vợ chồng, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 chỉ dự liệu một chế độ tài sản pháp định. Theo đó, Luật quy định chung cho tất cả các cặp vợ chồng về căn cứ xác định tài sản chung, tài sản riêng, về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng và về phân chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn. Về nguyên tắc, đây là chế độ tài sản trong hôn nhân duy nhất được pháp luật thừa nhận. Việc áp đặt một chế độ tài sản trong hôn nhân như vậy là cứng nhắc, không đáp ứng được những nhu cầu khác nhau của các cặp vợ chồng trong việc thực hiện các quan hệ tài sản. Hiện nay, Luật hôn nhân và gia đình đã ghi nhận và bảo vệ quyền sở hữu tài sản riêng của vợ, chồng. Tuy nhiên, việc chứng minh đâu là tài sản riêng trên thực tế hiện nay gặp rất nhiều khó khăn nếu hai bên không có thỏa thuận trước hoặc không có các chứng cứ, tài liệu để chứng minh cụ thể. Qua thực tiễn tổng kết thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 cho thấy, việc lập hôn ước trước hôn nhân là cách ứng xử công bằng và tiến bộ. Đó là cơ sở để bảo vệ tài sản riêng của từng cá nhân; trợ giúp kế hoạch dự trù tài sản riêng hay tài sản chung trong hôn nhân, giúp giảm thiểu xung đột và tiết kiệm được án phí tranh tụng trong trường hợp ly hôn… Vấn đề thứ hai, nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng là một trong các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam. Tự nguyện trong hôn nhân bao gồm cả tự nguyện trong kết hôn, tự nguyện trong giải quyết các mẫu thuẫn giữa vợ chồng. Khi có mâu thuẫn trong hôn nhân, vợ chồng có quyền xác định phương thức giải quyết mâu thuẫn tốt nhất, phù hợp với nguyện vọng, hoàn cảnh của chính họ và gia đình họ thông qua biện pháp ly thân hoặc ly hôn. Ly thân là vợ chồng không sống cùng nhau nhưng hôn nhân của họ vẫn tồn tại, để giảm sự căng thẳng, xung đột gay gắt giữa vợ và chồng, để các bên có thời gian suy ngẫm, đánh giá về tình cảm của vợ chồng, trách nhiệm với con cái và có thể sửa đổi tính tình để vợ chồng đoàn tụ, tiếp tục chung sống. Tuy nhiên, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 chỉ thừa nhận hai phương thức giải quyết mâu thuẫn giữa vợ và chồng là thông qua hòa giải và thông qua việc chấm dứt hôn nhân bằng ly hôn. Chế định ly thân chưa được nhà làm luật Việt Nam thừa nhận . Vấn đề thứ ba, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 chưa có quy định cụ thể về mang thai hộ. Nghị định số 12/2003/NĐ-CP ngày 12 tháng 2 năm 2003 của Chính phủ về sinh con theo phương pháp khoa học có quy định nhà nước nghiêm cấm các hành vi mang thai hộ và sinh sản vô tính. Trẻ ra đời do thực hiện hỗ trợ sinh sản phải được sinh ra từ người mẹ trong cặp vợ chồng vô sinh hoặc người phụ nữ sống độc thân và họ là cha, mẹ đối với đứa trẻ sinh ra do thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản Điều 6, Điều 20. Việc nghiêm cấm hành vi mang thai hộ nhằm tránh những tiêu cực đã và đang xảy ra như mang thai hộ nhằm mua bán trẻ sơ sinh bất hợp pháp, mang thai hộ nhằm lách luật để sinh con thứ ba... Song, việc nghiêm cấm này lại hạn chế mong muốn chính đáng của rất nhiều gia đình hiếm muộn, vô sinh. Dưới góc độ pháp lý, thỏa thuận giữa người nhờ và người nhận mang thai hộ là loại thỏa thuận gì? Những thỏa thuận này có trái với quan niệm đạo đức truyền thống không? Biện pháp pháp lý ràng buộc các bên và chế tài pháp lý trong trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng thỏa thuận? Hiện chưa có quy định nào điều chỉnh vấn đề này. Tại Hội nghị, các đại biểu đã nghe Báo cáo về mục tiêu, quan điểm và định hướng sửa đổi, bổ sung Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, trong đó nhấn mạnh tới mục tiêu xây dựng Luật hôn nhân và gia đình nhằm đáp ứng các yêu cầu khách quan của thực tiễn hôn nhân và gia đình Việt Nam; công nhận, thực hiện và bảo vệ tốt hơn các quyền nhân thân và tài sản của cá nhân về hôn nhân và gia đình; nâng cao trách nhiệm của cá nhân đối với gia đình; vai trò của gia đình đối với xã hội; vai trò của nhà nước và xã hội đối với gia đình. Các đại biểu đã nghe các tham luận về thực tiễn thi hành Luật hôn nhân và gia đình trong công tác giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình của ngành Tòa án nhân dân tối cao; thực trạng lồng ghép giới trong các quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; thực tiễn thi hành Luật hôn nhân và gia đình trong công tác kiểm sát giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình của ngành Viện Kiểm sát nhân dân..../. 1. Đề thi môn Luật Hôn nhân gia đình lớp QTL36 – năm 20132. Đề thi Luật Hôn nhân gia đình lớp DS36A – năm 20133. Đề thi môn Luật Hôn nhân gia đình lớp DS37 – năm 20144. Đề thi môn Luật Hôn nhân gia đình lớp HC37 – năm 20145. Đề thi Luật Hôn nhân và gia đình lớp HS37 – năm 20156. Đề thi môn Luật Hôn nhân gia đình lớp QT37 – năm 20157. Đề thi môn Luật Hôn nhân và gia đình lớp QTL37 – năm 20168. Đề thi môn Luật Hôn nhân gia đình lớp 37 – năm 20169. Đề thi môn Pháp luật Hôn nhân và gia đình lớp TM38A – năm 201710. Đề thi môn Luật Hôn nhân gia đình lớp CLC38A – năm 201711. Đề thi môn Pháp luật Hôn nhân và gia đình lớp HC38B-HS38B12. Đề thi môn Luật Hôn nhân gia đình lớp DS39 – năm 201813. Đề thi môn luật hôn nhân và gia đình lớp HS40 – 201814. Đề thi môn Luật Hôn nhân và gia đình lớp HC40 – năm 201815. Đề thi môn Luật Hôn nhân và gia đình lớp DS40A – năm 201816. Đề thi Pháp luật hôn nhân và gia đình lớp CLC42 – năm 201817. Đề thi môn Luật Hôn nhân gia đình lớp HS43 – năm 201918. Đề thi môn Luật Hôn nhân và gia đình lớp CLC42A – năm 201918. Đề thi Luật Hôn nhân và gia đình lớp QTKD42 – năm 201919. Đề thi Luật Hôn nhân và gia đình lớp QTL42 – năm 201920. Đề thi môn Luật Hôn nhân gia đình trường ĐH Luật TP. HCM21. Đề thi lớp AUF43 – 2020 Tuyển tập đề thi môn Luật Hôn nhân và gia đình trường Đại học Luật tổng hợp từ năm 2013 đến nay! Đề thi Luật Hôn nhân gia đình chuyên sâu Đề thi Pháp luật thương mại ASEAN Đề thi Chuyển giao công nghệ quốc tế Đề thi môn Công pháp quốc tế Đề thi Luật Thương mại quốc tế TỪ KHÓA Đề thi Luật, Luật Hôn nhân gia đình 1. Đề thi môn Luật Hôn nhân gia đình lớp QTL36 – năm 2013 Cập nhật ngày 06/01/2013. Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh Lớp Quản trị luật 35 Thời gian làm bài 60 phút Sinh viên chỉ được sử dụng văn bản quy phạm pháp luật khi làm bài thi Nhận định Nhận định đúng sai, giải thích dựa trên cơ sở pháp lý 6 điểm 1 – Người đã thành niên, không bị mất năng lực hành vi dân sự, tự nguyện kết hôn và không thuộc các trường hợp cấm kết hôn thì có quyền kết hôn. 2 – Mọi hành vi chung sống như vợ chồng từ ngày trở đi mà không đăng ký kết hôn đều không được công nhận quan hệ vợ chồng. 3 – Tiền trợ cấp mà một bên có được trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng. 4 – Mọi giao dịch liên quan đến tài sản chung, nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu do vợ hoặc chồng thực hiện đều phát sinh trách nhiệm liên đối với bên vợ, chồng còn lại. 5 – Khi một bên vợ, chồng không đồng ý, người còn lại không thể tiến hành nhận nuôi con nuôi. 6 – Khi hôn nhân chấm dứt, mọi quyền và nghĩa vụ giữa những người đã từng là vợ chồng cũng chấm dứt. Bài tập Ông Lê Hùng và Bà Nguyễn Chéo chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 1980 mà không đăng ký kết hôn. Hai người có 2 con chung là An và Lan. Năm 1985, ông Hùng có quan hệ thân thiết với bà Quán. Đến năm 1986 ông cùng bà Quán bỏ đi khỏi địa phương để cùng chung sống với nhau, giữa họ có 6 con chung. Năm 1989 bà chéo được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng 1040m2 đất. Năm 2015, ông Hùng yêu cầu Tòa án chia tài sản là 1040m2 đất của vợ chồng ông tức ông và bà Chéo. Bằng các quy định của pháp luật hiện hành, anh chị hãy giải quyết yêu cầu kể trên./. 4 điểm Xem thêm đề thi Tuyển tập 20+ Đề thi Luật Hôn nhân gia đình Tuyển tập 10+ đề thi môn Luật Đầu tư Tuyển tập 3+ đề thi môn Nhượng quyền thương mại 2. Đề thi Luật Hôn nhân gia đình lớp DS36A – năm 2013 Cập nhật ngày 16/01/2013. Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh Lớp Dân sự 36A Thời gian làm bài 60 phút Sinh viên chỉ được sử dụng văn bản quy phạm pháp luật khi làm bài thi Nhận định Giải thích đúng, sai các nhận định sau trên cơ sở pháp lý 6 điểm 1 – Hành vi xác lập quan hệ vợ chồng có thể ủy quyền cho người khác thực hiện. 2 – Chỉ UBND cấp tỉnh nơi công dân Việt Nam cư trú mới có thẩm quyền đăng ký việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài tại Việt Nam. 3 – Nam nữ sống chung như vợ chồng trước ngày nếu đảm bảo các điều kiện kết hôn đều được pháp luật công nhận là vợ chồng. 4 – Người đang có vợ hoặc chồng mà kết hôn với người khác thì lần kết hôn sau sẽ bị Tòa án hủy khi có yêu cầu. 5 – Người chưa thành viên cũng có quyền nhận nuôi con nuôi. 6 – Quyền ly hôn của người khuyết tật nghe, nói phải được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật. Bài tập Năm 1980, ông Dũng hỏi, cưới bà Thủy trong niềm hân hoan của hai bên gia đình. Khối tài sản chung hai người tạo lập sau gần 20 năm chung sống là căn nhà xây trên 120m2 đất tọa lạc tại xã HL, huyện PL, tỉnh ĐN trị giá 1,5 tỷ đồng. Nhà đất này do ông Dũng đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu – sử dụng. Ông Dũng, bà Thủy có con chung là Việt. Sau khi bà Thủy mất không để lại di chúc vào năm 1999. Ông Dũng giao nhà đất cho con trai quản lý rồi đến địa phương khác chung sống với bà Ngà như vợ chồng. Ông Dũng và bà Ngà không có tài sản chung nhưng có con chung là Ngọc. Tháng ông Dũng chết không để lại di chúc. Bà Ngà khởi kiện yêu cầu chia thừa kế – phần di sản liên quan đến khối nhà đất 120m2 của ông Dũng tại tỉnh ĐN. Trên cơ sở pháp lý của pháp luật, hãy xác định tính chất hôn nhân giữa ông Dũng – bà Thủy; ông Dũng – bà Ngà. Giải quyết tranh chấp thừa kế trong tình huống trên như thế nào cho phù hợp với tinh thần pháp luật? Yêu cầu Xác định phần di sản thừa kế của ông Dũng và đối tượng được hưởng di sản của ông./. 3. Đề thi môn Luật Hôn nhân gia đình lớp DS37 – năm 2014 Cập nhật ngày 06/05/2013. Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh Lớp Dân sự 37 Thời gian làm bài 60 phút Sinh viên chỉ được sử dụng văn bản quy phạm pháp luật khi làm bài thi Giảng viên ra đề ThS Lê Thị Mận. Nhận định Giải thích đúng, sai các nhận định sau trên cơ sở pháp lý 1 – Người đã thành niên cũng có thể không có quyền kết hôn dù thỏa mãn quy định tại Khoản 2 Điều 9 và Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. 2 – UBND cấp tỉnh là cơ quan duy nhất có thẩm quyền đăng ký việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài tại Việt Nam. 3 – Nam nữ sống chung như vợ chồng từ ngày đến trước ngày có thể được công nhận là vợ chồng dù các bên không đăng ký kết hôn. 4 – Thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng. 5 – Dân tộc của con nuôi có thể được xác định theo dân tộc của cha nuôi, mẹ nuôi. 6 – Quyền ly hôn của người khuyết tật nghe, nói phải được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật. Bài tập Ông Tín và bà Nga sống chung như vợ chồng năm 1982 hai bên không đăng ký kết hôn dù họ đủ điều kiện kết hôn theo quy định của LHNGĐ 1959. Khối tài sản chung do hai người tạo lập là căn nhà xây trên diện tích đất 200m2 tại xã VH, huyện PL, tỉnh X trị giá 3 tỷ đồng. Nhà đất này do ông Tín đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu – sử dụng. Ông Tín và và Nga có con chung là Tú, sinh năm 1983. Năm 1992, bà Nga mất không để lại di chúc. Năm 1999, ông Tín đưa bà Phương về chung sống như vợ chồng. Ông Tín, bà Phương có khối động sản chung là 400 triệu đồng và có con chung là Hạnh sinh năm 2001. Ngày ông Tín chết không để lại di chúc. Con ông Tín là Tú khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế do các bên có quyền và nghĩa vụ liên quan không tìm được sự đồng thuận. 1 – Hãy xác định tính chất “hôn nhân” giữa ông Tín và bà Nga, giữa ông Tín và bà Phương trên cơ sở pháp luật. 2 điểm 2 – Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp thừa kế trong tình huống trên như thế nào, tại sao? Yêu cầu Xác định rõ phần di sản thừa kế của ông Tín và đối tượng được hưởng di sản của ông./. 2 điểm 4. Đề thi môn Luật Hôn nhân gia đình lớp HC37 – năm 2014 Cập nhật ngày 16/01/2014. Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh Lớp Hành chính 37 Thời gian làm bài 60 phút Sinh viên chỉ được sử dụng văn bản quy phạm pháp luật khi làm bài thi GV ra đề ThS Lê Thị Mận Nhận định Giải thích đúng, sai các nhận định sau trên cơ sở pháp lý 1 – Con riêng của một bên vợ chồng không có quyền kết hôn với con chung con đẻ của hai vợ chồng. 2 – Kết hôn có yếu tố nước ngoài có thể đăng ký tại UBND cấp xã. 3 – Hội Liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định hủy kết hôn trái pháp luật do vi phạm sự tự nguyện. 4 – Việc nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung của vợ chồng theo chế độ tài sản pháp định phải lập thành văn bản và phải được công chứng. 5 – Cháu đã thành niên không sống chung với chú ruột phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho chú trong trường hợp chú không có khả năng lao động hoặc không có tài sản để tự nuôi mình. 6 – Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con khi cha mẹ không còn đủ điều kiện trông nom, chăm sóc, giáo dục con. Bài tập Ông Hoàng kết hôn với bà Anh năm 1990. Năm 1995, do vợ chồng mâu thuẫn, ông Hoàng bỏ nhà đến sống chung như vợ chồng với bà Xuân. Ngày UBND xã H nơi bà Xuân cư trú đăng ký kết hôn cho ông Hoàng và bà Xuân. Năm 2011, bà Anh yêu cầu tòa án hủy việc kết hôn giữa ông Hoàng và bà Xuân khi biết được sự việc. Trước yêu cầu của bà Anh, có ý kiến cho rằng ông Hoàng và bà Xuân vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng theo khoản 1 Điều 10 LHNGĐ năm 2000 nên tòa án phải hủy việc kết hôn này. Tuy nhiên, cũng có ý kiến khẳng định ông Hoàng, bà Xuân là vợ chồng vì họ thuộc trường hợp hôn nhân thực tế và đã đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm theo Nghị quyết 35/2000. Từ góc độ pháp lý, hãy cho biết quan điểm của anh chị về pháp luật áp dụng và đường lối giải quyết yêu cầu của bà Anh theo tình huống trên. 4 điểm 5. Đề thi Luật Hôn nhân và gia đình lớp HS37 – năm 2015 Cập nhật ngày 26/11/2014. Trường Đại học luật TP. HCM Lớp Hình sự 37 Thời gian làm bài 60 phút Sinh viên chỉ được sử dụng văn bản quy phạm pháp luật khi làm bài thi GV ra đề ThS Lê Thị Mận Nhận định Giải thích đúng, sai các nhận định sau trên cơ sở pháp lý 1 – Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự vẫn có quyền kết hôn. 2 – Hội Liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định hủy kết hôn trái pháp luật do vi phạm sự tự nguyện. 3 – Nam nữ sống chung như vợ chồng có thể được pháp luật công nhận là vợ chồng. 4 – Vợ, chồng không chung thủy với nhau là vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng. 5 – Người chưa thành niên mới được nhận làm con nuôi. 6 – Quan hệ vợ, chồng chấm dứt bởi quyết định tuyên bố một bên vợ, chồng mất tích có hiệu lực của Tòa án. Bài tập Ông Lý cưới bà Nguyệt năm 1990 nhưng không đăng ký kết hôn. Khi tổ chức lễ cưới, hai bên không vi phạm điều kiện kết hôn quy định tại Điều 5,6,7 LHNGĐ năm 1986. Chung sống hạnh phúc đến năm 2005 thì giữa ông Lý và bà Nguyệt phát sinh mâu thuẫn do bà Nguyệt không có khả năng sinh con. Tháng ông Lý nộp đơn yêu cầu Tòa án huyện Q hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa ông và bà Nguyệt với lý do ông bà không đăng ký kết hôn. 1 – Hỏi, Tòa án có thẩm quyền thụ lý vụ giải quyết ông Lý và Nguyệt ly hôn hay hủy việc kết hôn của họ hay xác định hôn nhân giữa ông Lý, bà Nguyệt không có giá trị pháp lý và không công nhận các bên có quan hệ vợ chồng? Phân tích trên cơ sở pháp lý 2 điểm 2 – Giả thiết ông Lý và bà Nguyệt tranh chấp tài sản thì tòa án phân định vấn đề này ra sao biết rằng tại thời điểm Tòa án giải quyết vụ việc, ông Lý và bà Nguyệt có khối động sản chung trị giá 1,2 tỷ đồng? 2 điểm 6. Đề thi môn Luật Hôn nhân gia đình lớp QT37 – năm 2015 Cập nhật ngày 12/12/2015. Trường Đại học Luật TP. HCM Lớp Quốc tế 37 Thời gian làm bài 60 phút Sinh viên chỉ được sử dụng văn bản quy phạm pháp luật khi làm bài thi Nhận định Nhận định đúng sai, giải thích dựa trên cơ sở pháp lý 6 điểm 1 – Việc nam và nữ bắt đầu chung sống với nhau từ ngày trở về sau mà không đăng ký kết hôn đều không được công nhận là vợ chồng. 2 – Thời điểm bắt đầu phát sinh quan hệ vợ chồng là khi họ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký kết hôn và cấp giấy chứng nhận kết hôn. 3 – Khi cha mẹ không thể nuôi dưỡng, cấp dưỡng được cho con, thì ông bà phải có nghĩa vụ nuôi dưỡng hoặc cấp dưỡng cho cháu. 4 – Nghĩa vụ và quyền về hôn nhân gia đình có thể vẫn còn tồn tại ngay cả khi các chủ thể đã chấm dứt quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình. 5 – Người không có điều kiện về kinh tế, sức khỏe, chỗ ở đảm bảo chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi thì không có quyền nhận nuôi con nuôi. 6 – Trong một số trường hợp, người nhận nuôi con nuôi không nhất thiết phải lớn hơn con nuôi từ 20 tuổi. Bài tập Sinh viên tự chọn một trong hai bài tập dưới đây 4 điểm Bài số 1 Năm 1997, anh Hoa được nhà nước cho thuê căn nhà diện tích 80m2 tại số 5 đường 9 phường K. Năm 2000 anh Hoa kết hôn với chị Lành và hai vợ chồng về sống chung tại căn nhà này. Năm 2005, anh chị mua căn nhà số 89 đường 9 phường K và chuyển về sống tại đây. Nhà số 5 anh Hoa cho thuê, mỗi tháng được 5 triệu đồng. Năm 2011, anh Hoa và chị Lành ly hôn và tranh chấp căn nhà số 5 đường 9 phường K. Anh Hoa cho rằng Nhà này Nhà nước cho anh thuê trước khi kết hôn, nên chỉ mình anh được tiếp tục ký hợp đồng thuê, nếu Nhà nước hóa giá, chỉ mình anh được mua. Chị Lành thì cho rằng Mặc dù căn nhà này Nhà nước cho anh Hoa thuê trước khi kết hôn, nhưng anh đã đưa vào sử dụng chung, nên quyền được thuê nhà là tài sản chung của hai vợ chồng. Theo anh chị nếu tòa án giải quyết cho họ ly hôn, tranh chấp liên quan đến căn nhà số 5 đường 9 trên được giải quyết như thế nào? Căn cứ pháp lý? Biết rằng Trước khi nộp đơn yêu cầu giải quyết ly hôn, họ đã bán căn nhà số 89, đường 9. Hiện tại cả hai đều có nhu cầu sử dụng căn nhà số 5 đường 9. Thời hạn thuê nhà vẫn còn. Trong thời gian sống chung, hai vợ chồng đã đầu tư hết 50 triệu đồng để cải tạo, sửa chữa nhà số 5 trên. Bài số 2 Anh Hà và chị Lan kết hôn năm 2010. Năm 2013 anh Hà thành lập doanh nghiệp tư nhân Đại Phát, chuyên về phân phối bánh kẹo, do anh đứng tên là chủ doanh nghiệp. Việc thành lập doanh nghiệp là do hai vợ chồng bàn bạc, thỏa thuận, nguồn vốn thành lập là lấy từ tài sản chung của vợ chồng Theo anh chị Lợi tức thu được từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân Đại Phát là tài sản riêng của anh Hà hay là tài sản chung của vợ chồng anh Hà, chị Lan? Căn cứ pháp lý? Nếu phát sinh nghĩa vụ về tài sản từ hoạt động của doanh nghiệp tư nhân trên, thì nghĩa vụ này được đảm bảo bằng tài sản của doanh nghiệp tư nhân và tài sản riêng của anh Hà hay tài sản của doanh nghiệp tư nhân và tài sản chung của vợ chồng anh Hà, chị Lan? Căn cứ pháp lý? 7. Đề thi môn Luật Hôn nhân và gia đình lớp QTL37 – năm 2016 Cập nhật ngày 09/01/2016. Trường Đại học Luật TP. HCM Lớp Quản trị luật 37 Thời gian làm bài 60 phút Sinh viên chỉ được sử dụng văn bản quy phạm pháp luật khi làm bài thi Nhận định Trả lời đúng sai, kèm theo lời giải thích, nêu cơ sở pháp lý 1 – Nam, nữ sống chung như vợ chồng trước ngày nếu không vi phạm điều kiện kết hôn được công nhận là vợ chồng. 2 – Tài sản chung của vợ chồng có thể được hình thành từ tài sản riêng của một bên. 3 – Nam nữ đang sống chung không đăng ký kết hôn không có quyền nhận trẻ em làm con nuôi chung. 4 – Văn bản thỏa thuận chia tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân chỉ có hiệu lực khi được công chứng. 5 – Để phù hợp với chính sách dân số gia đình VN, cặp vợ chồng chỉ được nhận từ một đến hai trẻ làm con nuôi. 6 – Hôn nhân chỉ chấm dứt khi một bên vợ, chồng chết. Bài tập Anh A và chị B là hai anh em họ. Ông ngoại của anh A và bà ngoại của chị B là hai anh em ruột. Sau nhiều lần gặp gỡ, anh A và chị B phát sinh tình cảm và quyết định tiến tới hôn nhân. Khi anh A, chị B cho biết dự định kết hôn, cả 2 bên gia đình đều phản đối vì giữa A, B có quan hệ họ hàng thân thích. 1 – Sự phản đối của người thân khiến anh A và chị B băn khoăn. Họ không biết việc kết hôn của mình có vi phạm pháp luật HNGĐ không? 2 điểm 2 – Căn cứ vào Luật HNGĐ năm 2000, anh chị hãy tư ấn cho anh A và chị B điều kiện kết hôn và dự định kết hôn của họ. 2 điểm 8. Đề thi môn Luật Hôn nhân gia đình lớp 37 – năm 2016 Cập nhật ngày 14/12/2016. Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh Lớp Thương mại 37 Thời gian làm bài 60 phút Sinh viên chỉ được sử dụng văn bản quy phạm pháp luật khi làm bài thi Nhận định Giải thích đúng, sai các nhận định sau trên cơ sở pháp lý 1 – Nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày đều được pháp luật công nhận là vợ chồng. 2 – Việc kết hôn vi phạm sự tự nguyện sẽ bị Tòa án ra quyết định hủy hôn khi có yêu cầu. 3 – Việc xác lập, thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản chung của vợ chồng phải có sự đồng ý của hai bên vợ chồng. 4 – Con do người vợ sinh ra trong thời kỳ hôn nhân đương nhiên là con chung của vợ chồng. 5 – Người nhận con nuôi phải là người thành niên. 6 – Hòa giải cơ sở là thủ tục phải tiến hành trước khi Tòa án giải quyết yêu cầu ly hôn. Bài tập Anh A và chị B sống chung như vợ chồng từ ngày Không lâu sau khi “nên nghĩa”, cuộc sống chung của A, B phát sinh mâu thuẫn do anh A nghi ngờ chị B ngoại tình. Ngày chị B gửi đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn anh A. Sau khi thụ lý và xem xét vụ việc, Tòa án nhân dân quận H ra quyết định số 181/2000/QĐ-VDS ngày không công nhận A, B là vợ chồng. Tháng anh A đột tử. Ngày chị B sinh con là C. Khi đi đăng ký khai sinh cho con, chị B đã yêu cầu UBND phường N nơi chị cư trú ghi tên anh A – với tư cách cha đẻ – vào Giấy khai sinh của C. Hỏi Với nguyện vọng của chị B và để đảm bảo quyền lợi cho C, UBND phường N cần giải quyết vụ việc trên như thế nào? Vì sao? 9. Đề thi môn Pháp luật Hôn nhân và gia đình lớp TM38A – năm 2017 Cập nhật ngày 22/01/2017. Lớp Thương mại, dân sự và quốc tế 38A Thời gian làm bài 60 phút Sinh viên chỉ được sử dụng văn bản quy phạm pháp luật khi làm bài thi GV ra đề ThS Lê Thị Mận Nhận định Giải thích đúng, sai các nhận định sau trên cơ sở pháp lý 1 – Người đang chấp hành án phạt tù có giam giữ không có quyền kết hôn. 2 – Việc xác lập quan hệ vợ chồng có thể ủy quyền cho người khác thực hiện. 3 – Nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng từ ngày đến trước ngày đủ điều kiện mà không đăng ký kết hôn vẫn có thể được công nhận là vợ chồng. 4 – Trong chế độ tài sản pháp định, lợi tức phát sinh từ tài sản sau khi chia trong thời kỳ hôn nhân vẫn có thể xác định là tài sản chung của vợ chồng. 5 – Ông bà có nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu không còn cha mẹ. 6 – Pháp luật hôn nhân và gia đình hiện hành chỉ thừa nhận quyền ly hôn của vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng. Bài tập Ông Hoàng chung sống như vợ chồng với bà Lâm từ tháng 12 năm 1986. Họ có tổ chức lễ cưới trước khi về sống chung nhưng không đăng ký kết hôn dù đủ điều kiện kết hôn theo pháp luật hôn nhân và gia đình. Tháng dù đang chung sống với bà Lâm nhưng ông Hoàng vẫn tiếp tục sống chung như vợ chồng với bà Cầm và có con chung tên Minh sinh năm 2003. Ngày ông Hoàng, bà Cầm đăng ký kết hôn. UBND xã NĐ, huyện LN, tỉnh BP nơi bà Cầm đăng ký tạm trú Bà Cầm đăng ký hộ khẩu thường trú tại phường 1, quận BT, thành phố H đã cấp Giấy chứng nhận kết hôn cho hai người. Tháng phát hiện sự việc đến tại thời điểm này, ông Hoàng vẫn duy trì quan hệ với bà Lâm, bà Lâm gửi đơn yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn giữa ông Hoàng và bà Cầm với lý giải ông Hoàng kết hôn với bà Cầm khi ông đang có vợ. Theo anh chị, ông Hoàng có thuộc trường hợp “người đang có vợ” tại thời điểm ông xác lập quan hệ vợ chồng với bà Cầm không? Cơ sở pháp lý? Tòa án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu của bà Lâm theo hướng nào sau đây cho phù hợp với tinh thần pháp luật i Thừa nhận ông Hoàng và bà Cầm là vợ chồng? ii Hủy việc kết hôn giữa ông Hoàng và bà Cầm? iii Không công nhận ông Hoàng và bà Cầm là vợ chồng? 10. Đề thi môn Luật Hôn nhân gia đình lớp CLC38A – năm 2017 Cập nhật ngày 03/12/2017. Lớp Chất lượng cao 38A Thời gian làm bài 60 phút Chỉ được sử dụng văn bản quy phạm pháp luật khi làm bài thi GV ra đề ThS Trần Thị Hương Nhận định Trả lời đúng sai, kèm theo lời giải thích, nêu cơ sở pháp lý những nhận định sai? 6 điểm 1 – Người bị Tòa án ra quyết định hạn chế năng lực hành vi dân sự thì không được kết hôn. 2 – Những người sống chung với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không được pháp luật công nhận. 3 – Tài sản mà vợ chồng có được do thừa kế chung là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng. 4 – Xuất phát từ nguyên tắc hôn nhân tự nguyện nên chỉ một bên hoặc cả hai bên hoặc cả hai bên vợ chồng mới có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn của họ. 5 – Khi Tòa án giải quyết việc giao con cho cha hoặc mẹ nuôi khi vợ chồng ly hôn, thì Tòa án phải căn cứ vào nguyện vọng của người con để giải quyết nếu con từ đủ 7 tuổi trở lên. 6 – Nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ hoặc chồng được thanh toán từ tài sản riêng của người đó. Bài tập Anh M và chị N quen biết nhau qua những người bạn học chung lớp Anh văn. Sau một thời gian tham gia các hoạt động ngoại khóa cùng các bạn, giữa M và N nảy sinh quan hệ yêu đương. Sau một thời gian duy trì mối quan hệ tình cảm thắm thiết, M và N quyết định cùng nhau xác lập quan hệ hôn nhân. Anh M và Chị N gặp gỡ hai bên gia đình và trình bày nguyện vọng kết hôn với nhau. Khi hai bên gia đình gặp nhau bàn chuyện kết hôn thì mới biết anh M và chị N có họ hàng gần gũi. Cha của chị N là em của ông ngoại anh M. Khi quan hệ họ hàng giữa M và N được xác định, gia đình hai bên ngăn cấm không cho M và N kết hôn cùng nhau. Theo anh chị, xét dưới khía cạnh pháp luật hôn nhân và gia đình anh M và chị N có thể kết hôn với nhau không? Vì sao? 11. Đề thi môn Pháp luật Hôn nhân và gia đình lớp HC38B-HS38B Cập nhật ngày 30/12/2017. Lớp Hành chính 38B – Hình sự 38B Thời gian làm bài 60 phút Chỉ được sử dụng văn bản quy phạm pháp luật khi làm bài thi GV ra đề ThS Trần Thị Hương Nhận định Giải thích đúng, sai các nhận định sau trên cơ sở pháp lý 1 – Người bị thiểu năng trí tuệ không có quyền kết hôn. 2 – Việc đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài có thể được thực hiện tại UBND cấp xã nơi cư trú của công dân Việt Nam. 3 – Nam nữ sống chung như vợ chồng trước ngày nếu có đủ điều kiện kết hôn thì pháp luật công nhận là vợ chồng. 4 – Những giao dịch dân sự do một bên vợ hoặc chồng tiến hành, khi có yêu cầu Tòa án tuyên bố là vô hiệu thì Tòa án sẽ tuyên bố là vô hiệu. 5 – Chế độ tài sản theo quy định của pháp luật sẽ được áp dụng khi vợ chồng không lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận. 6 – Khi giải quyết ly hôn, Tòa án phải tiến hành thủ tục hòa giải. Bài tập Anh X và chị Y xác lập quan hệ hôn nhân hợp pháp vào năm 2002. Họ có con chung là C, sinh năm 2003. Sau một thời gian chung sống giữa X và Y phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Để tránh phát sinh những hậu quả tồi tệ trong mối quan hệ với chị Y, anh X bỏ đi nơi khác sống. Năm 2008, sau một thời gian quen biết, anh X phát sinh quan hệ tình cảm với chị D. Anh X và chị D quyết định kết hôn với nhau. Việc kết hôn của anh X và chị D được UBND xã K huyện H tỉnh M nơi cư trú của chị D công nhận. Khi xác lập quan hệ vợ chồng với chị D, anh A khẳng định mình là người độc thân. Sau khi sống chung được hai năm, phát hiện anh X là người đã có vợ là chị Y nên chị D nhờ Hội Liên hiệp phụ nữ huyện H can thiệp. Hội Liên hiệp phụ nữ huyện H đã yêu cầu Tòa án huyện H hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh X và chị D. Tòa án đã thụ lý giải quyết yêu cầu của Hội Liên hiệp phụ nữ, buộc X, D phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng và chia đôi khối tài sản trị giá 800 triệu hình thành trong thời gian hai bên chung sống. Trình bày ý kiến của anh chị về quyết định của Tòa án có thẩm quyền trong việc xử lý vụ việc nêu trên? 4 điểm Xem thêm đề thi Tuyển tập 5+ đề thi Pháp luật thương mại ASEAN Tuyển tập 12+ đề thi môn Xã hội học pháp luật – đại cương Tuyển tập Đề thi Chuyển giao công nghệ quốc tế 12. Đề thi môn Luật Hôn nhân gia đình lớp DS39 – năm 2018 Cập nhật ngày 05/01/2018. Lớp Dân sự 39 Thời gian làm bài 60 phút Sinh viên được sử dụng văn bản quy phạm pháp luật Giảng viên ra đề ThS Ngô Thị Anh Vân Nhận định Nhận định đúng/sai, giải thích dựa trên cơ sở pháp lý 1 – Người đã thành niên, không bị mất năng lực hành vi dân sự, tự nguyện kết hôn và không thuộc các trường hợp cấm kết hôn thì có quyền kết hôn. 2 – Trường hợp tại thời điểm kết hôn, nam nữ không đủ điều kiện kết hôn nhưng sau đó đã đáp ứng điều kiện kết hôn, nếu một bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân, còn bên kia không có yêu cầu thì Tòa án ra quyết định hủy kết hôn trái pháp luật. 3 – Mọi giao dịch do một bên thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình, mà không có sự đồng ý của bên còn lại đều làm phát sinh trách nhiệm liên đới đối với vợ chồng. 4 – Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của một bên vợ hoặc chồng sẽ là tài sản chung nếu hoa lợi, lợi tức đó là nguồn sống duy nhất của gia đình. 5 – Khi không sống chung cùng với cha mẹ, con đã thành niên có khả năng lao động phải cấp dưỡng cho cha mẹ. 6 – Thuận tình ly hôn là việc vợ chồng cùng yêu cầu giải quyết ly hôn một cách tự nguyện. Bài tập M và Q tổ chức lễ cưới và bắt đầu chung sống như vợ chồng vào tháng 1 năm 1986. Sau một khoảng thời gian chung sống với Q, M bắt đầu đi làm ăn xa nhà. Trong khoảng thời gian từ tháng 7 năm 2011 đến tháng 12 năm 2015 M chung sống như vợ chồng với C – là người địa phương nơi M đang sinh sống. Cũng trong khoảng thời gian này vào tháng 1 năm 2015 C sinh con là K. Sau đó, do công việc làm ăn thuận lợi nên M trở về quê để tiếp tục sinh sống và làm việc. Không có sự hỗ trợ của M đời sống của cô C và cháu K vô cùng khó khăn. Mặc dù C đã nhiều lần yêu cầu M cấp dưỡng cho con nhưng M đều từ chối. Hãy tư vấn cho C các thủ tục pháp lý cần thiết để cô C bảo vệ quyền lợi của mình và cháu K. 13. Đề thi môn luật hôn nhân và gia đình lớp HS40 – 2018 Cập nhật ngày 02/12/2018. Thời gian làm bài 60 phút Sinh viên được sử dụng Văn bản quy phạm pháp luật Lớp Hình sự 40 Nhận định Nhận định đúng/sai, giải thích dựa trên cơ sở pháp lý 1 – Trường hợp tại thời điểm kết hôn nam, nữ có sự vi phạm điều kiện kết hôn, nhưng khi Tòa án giải quyết yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật điều kiện kết hôn đã được thỏa mãn, một bên yêu cầu ly hôn, bên còn lại không có yêu cầu thì Tòa án giải quyết cho ly hôn. 2 – Việc nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn sẽ không làm phát sinh quan hệ vợ chồng. 3 – Chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định chỉ được áp dụng khi vợ chồng không lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận. 4 – Trong chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định, một bên vợ, chồng không được tự mình định đoạt tài sản chung khi không có sự đồng ý của người còn lại. 5 – Mối quan hệ nhận nuôi con nuôi chỉ được xác lập khi có sự đồng ý của cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ, người tiến hành nhận nuôi con nuôi, trẻ được nhận làm con nuôi. 6 – Vợ chồng không thể ly hôn khi người vợ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Bài tập Q và L tổ chức lễ cưới và bắt đầu chung sống như vợ chồng vào tháng 1 năm 1985. Sau một khoảng thời gian chung sống với Q, vào năm 2014, L đi làm ăn xa nhà và bắt đầu chung sống như vợ chồng với cô A. Trong khoảng thời gian này A sinh con là D. Gia đình ông L cũng biết điều này và không ngừng khuyên giải ông về quê làm ăn sinh sống. Ít lâu sau công việc làm ăn thuận lợi nên ông L đã trở về quê. Không có sự hỗ trợ của ông L đời sống của cô A và cháu D vô cùng khó khăn. Mặc dù cô A đã nhiều lần yêu cầu ông L cấp dưỡng cho con và mình, nhưng ông L đều từ chối. Hãy tư vấn cho cô A các thủ tục pháp lý cần thiết để cô A bảo vệ quyền lợi của mình và cháu D./. 14. Đề thi môn Luật Hôn nhân và gia đình lớp HC40 – năm 2018 Cập nhật ngày 20/12/2018. Lớp Hành chính 40 Thời gian làm bài 60 phút Sinh viên được sử dụng văn bản quy phạm pháp luật GV ra đề ThS Ngô Thị Vân Anh Nhận định Nhận định sau đây đúng hay sai, giải thích dựa trên cơ sở pháp lý? 1 – Kể từ ngày 01/01/2001 trở đi, việc nam nữ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn sẽ không làm phát sinh quan hệ hôn nhân. 2 – Việc đăng ký kết hôn tại cơ quan không có thẩm quyền sẽ không làm phát sinh quan hệ vợ chồng. 3 – Trong chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định, tài sản chung của vợ chồng thuộc hình thức sở hữu chung hợp nhất không thể phân chia được. 4 – Trong chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật, việc định đoạt tài sản chung nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình chỉ cần do một bên vợ/chồng quyết định và thực hiện. 5 – Người không có điều kiện về kinh tế, sức khỏe không được nhận nuôi con nuôi. 6 – Khi vợ chồng ly hôn, con dưới 36 tháng tuổi được giao cho người vợ trực tiếp nuôi dưỡng. Bài tập Ông H và bà Th kết hôn năm 1985. Hai người có con chung là A. Giữa họ có khối tài sản chung trị giá 400 triệu đồng. Năm 1986 ông H có quan hệ thân thiết với bà M. Đến tháng 01 năm 1987 ông H và bà M bỏ đi khỏi địa phương để cùng nhau chung sống, giữa họ có 3 con chung. Năm 2015, ông H chết mà không để lại di chúc. Hãy xác định phần di sản thừa kế mà ông H để lại. Biết rằng, ông H và bà M tạo dựng được khối tài sản trị giá 1 tỷ đồng và công sức đóng góp của hai người là như nhau. 15. Đề thi môn Luật Hôn nhân và gia đình lớp DS40A – năm 2018 Cập nhật ngày 21/12/2018. Trường Đại học Luật TP. HCM Lớp Dân sự 40A Thời gian làm bài 60 phút Sinh viên chỉ được sử dụng văn bản quy phạm pháp luật Nhận định Những nhận định sau đây đúng hay sai, giải thích tại sao? 1 – Những người đã đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật là những người đang có vợ có chồng. 2 – Trong chế độ tài sản theo quy định của pháp luật thì tài sản riêng của một bên vợ hoặc chồng được dùng để đáp ứng nhu cầu riêng của bên đó. 3 – Cha mẹ nuôi và con nuôi đã thành niên có thể tự thỏa thuận với nhau về việc chấm dứt nuôi con nuôi. 4 – Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự không được kết hôn. 5 – Theo quy định của chế độ tài sản pháp định thì tài sản mà vợ chồng có được do thừa kế chung là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng. 6 – Các trường hợp kết hôn trái pháp luật đều bị Tòa án giải quyết hủy khi có yêu cầu. Bài tập Anh H và chị Y vốn là bạn cùng học chung thời phổ thông với nhau. Theo ý nguyện của gia đình họ đã trở thành vợ chồng sau một lễ cưới với đủ các nghi thức truyền thống được tiến hành vào ngày 20/3/1986. Cuộc sống chung của anh H và chị Y sau khi cưới rất hòa thuận, hành phúc. Do yêu cầu công việc nên đến tháng 6/1995 anh T chuyển đến sinh sống tại một nơi rất xa nhà. Tại đây, anh phát sinh tình cảm với một chị đồng nghiệp là D. Tháng 10/1996 khi phát hiện mình đang mang thai, chị D gây sức ép để anh T kết hôn với mình. Ngày 30/10/1996, anh T và chị D kết hôn với nhau tại UBND xã nơi cư trú của chị D. Và được cơ quan nhà nước này cấp Giấy chứng nhận kết hôn. Tháng 12/2015 khi chị Y phát hiện ra mối quan hệ giữa anh H và chị D, chị không thể tha thức sự lừa dối của anh H đối với mình. Tháng 01/2016, chị Y làm đơn yêu cầu Tòa án hủy kết hôn trái pháp luật của anh H và chị D. Theo anh chị Tòa án giải quyết vụ việc trên như thế nào? Vì sao? 16. Đề thi Pháp luật hôn nhân và gia đình lớp CLC42 – năm 2018 Cập nhật ngày 25/12/2018. Lớp Chất lượng cao K42 Thời gian làm bài 60 phút Sinh viên được sử dụng VBQPPL Nhận định Các nhận định sau đây đúng hay sai? Tại sao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời? 6 điểm 1 – Người bị thiểu năng trí tuệ không có quyền kết hôn. 2 – Hội liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu Tòa án nhân dân có thẩm quyền ra quyết định hủy kết hôn trái pháp luật do bị ép buộc. 3 – Con do người vợ sinh ra trong thời kỳ hôn nhân có thể không phải là con chung của vợ chồng. 4 – Yêu sách của cải trong kết hôn là việc đòi hỏi về vật chất một cách quá đáng và coi đó là điều kiện để kết hôn. 5 – Trong mọi trường hợp, việc nhập tài sản riêng của vợ hoặc chồng vào khối tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân đều phải lập văn bản. 6 – Nghĩa vụ và quyền về tài sản giữa người được nhận làm con nuôi với cha mẹ đẻ của họ sẽ chấm dứt kể từ ngày quan hệ con nuôi được xác lập. Bài tập Năm 2000, ông Nguyễn Văn Tâm và bà Trần Thị Sự kết hôn. Sau một thời gian chung sống, ông Tâm tới tỉnh TG và chung sống như vợ chồng với chị Lê Văn Tư. Trong khoảng thời gian này, ông Tâm tạo lập được với chị Tư 01 mảnh đất trị giá 900 triệu đồng. Năm 2017, bà Sự vay 100 triệu đồng của người quen biết cùng với số tiền kinh doanh trong thời gian ông Tâm bỏ đi mua được căn nhà tại thành phố H trị giá 600 triệu đồng. Đầu năm 2018, bà Sự vay thêm 300 triệu để sản xuất, kinh doanh. Đến tháng 11/2018, ông Tâm trở về và yêu cầu Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết việc ly hôn và chia tài sản là căn nhà tại thành phố H. Ông Tâm cho rằng mình không có trách nhiệm gì với bất cứ khoản nợ nào của bà Sự do bà Sự tự xác lập mà không có sự thỏa thuận hay đồng ý của ông Tâm. Nếu anh chị là cơ quan có thẩm quyền, hãy giải quyết các yêu cầu của ông Tâm. 17. Đề thi môn Luật Hôn nhân gia đình lớp HS43 – năm 2019 Cập nhật ngày 10/01/2019. Lớp Hình sự 43 Thời gian làm bài 60 phút Sinh viên được sử dụng VBQPPL Nhận định Các nhận định sau đây đúng hay sai? Tại sao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời? 6 điểm 1 – Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự không có quyền kết hôn. 2 – Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định hủy kết hôn trái pháp luật do vi phạm sự tự nguyện. 3 – Nam nữ sống chung như vợ chồng có thể được pháp luật công nhận là vợ chồng. 4 – Nam nữ có thể ủy quyền cho cha mẹ mình đăng ký kết hôn. 5 – Người chưa thành niên mới được nhận là con nuôi. 6 – Quan hệ vợ, chồng chấm dứt kể từ thời điểm quyết định tuyên một bên vợ hoặc chồng đã chết của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Bài tập Ông Giang và bà Lan cưới năm 1985 nhưng không đi đăng ký kết hôn. Khi tổ chức lễ cưới, hai bên không vi phạm điều kiện kết hôn. Đến tháng 06/2018 ông Giang và bà Lan nảy sinh mâu thuẫn do bà Lan không có khả năng sinh con nên ông Giang nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân có thẩm quyền hủy việc kết hôn trái pháp luật của ông với bà Lan với lý do ông bà không đăng ký kết hôn. Hỏi 1 – Tòa án có thẩm quyền giải quyết trường hợp trên như thế nào?. 2 – Nếu bà Lan yêu cầu chia khối tài sản chung trị giá 2 tỷ đồng thì Tòa sẽ giải quyết như thế nào?. 18. Đề thi môn Luật Hôn nhân và gia đình lớp CLC42A – năm 2019 Cập nhật ngày 15/01/2019. Lớp Chất lượng cao 42A Thời gian làm bài 60 phút Sinh viên được sử dụng VBQPPL Nhận định Các nhận định sau đây đúng hay sai? Tại sao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời? 6 điểm 1 – Phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại các cơ sở giam giữ cũng có quyền kết hôn. 2 – Việc kết hôn không thể ủy quyền cho người khác thực hiện 3 – Chỉ Ủy ban nhân dân cấp huyện mới có thẩm quyền đăng ký việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài. 4 – Trong chế độ tài sản pháp định, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ hoặc chồng trong trong thời kỳ hôn nhân phải được xác định là tài sản chung của vợ chồng. 5 – Giải quyết xác định con sinh ra sau khi hôn nhân chấm dứt quá 300 ngày có thể thuộc thẩm quyền của cơ quan đăng ký hộ tịch. 6 – Khi người vợ có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì vợ chồng không có quyền yêu cầu ly hôn. Bài tập Đủ điều kết hôn theo Luật HNGĐ năm 1959 nhưng ông Tuấn và bà Lê chỉ chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1986 mà không đăng ký kết hôn. Chung sống đến tháng 04/2017, do mâu thuẫn trầm trọng, ông Tuấn nộp đơn yêu cầu Tòa án “hủy hôn nhân trái pháp luật” giữa ông và bà Lê với lý do hai bên không đăng ký kết hôn. Anh, chị hãy cho biết 1 – Tòa án có thẩm quyền “hủy hôn nhân trái pháp luật” giữa ông Tuấn với bà Lê hay giải quyết việc chấm dứt quan hệ vợ chồng của họ, cơ sở pháp lý? 2 – Tài sản của ông Tuấn, bà lê phân định như thế nào cho phù hợp tinh thần pháp luật, biết rằng tại thời điểm Tòa án giải quyết vụ án, ông Tuấn, bà Lê tranh chấp 100m2 đất trị giá tỷ đồng tọa lạc tại huyện PL, tỉnh TH; diện tích đất này do ông Tuấn nhận chuyển nhượng bằng tiền lương của ông vào tháng 02/2016 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Tuấn đứng tên. 18. Đề thi Luật Hôn nhân và gia đình lớp QTKD42 – năm 2019 Cập nhật ngày 16/01/2019. Lớp Quản trị kinh doanh – Khóa 42 Thời gian làm bài 60 phút Sinh viên được sử dụng VBQPPL Nhận định Các nhận định sau đây đúng hay sai? Tại sao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời? 6 điểm 1 – Những người cùng giới tính thì không được kết hôn với nhau. 2 – Người được nhận làm con nuôi phải là người có độ tuổi dưới 15 tuổi. 3 – Các bên nam nữ xác lập quan hệ hôn nhân có đăng ký kết hôn thì khi xin ly hôn Tòa án sẽ giải quyết ly hôn. 4 – Quan hệ tài sản của vợ chồng luôn chịu sự điều chỉnh của pháp luật hôn nhân và gia đình. 5 – Một bên vợ chồng, người bị Tòa án tuyên bố là đã chết mà trở về, người chồng vợ của họ chưa kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân đương nhiên được khôi phục. 6 – Một bên vợ chồng bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì bên chồng vợ còn lại sẽ là người đại diện cho người đó. Bài tập Anh An và chị Khánh xác lập quan hệ hôn nhân hợp pháp ngày 12/06/2006. Sau một thời gian chung sống anh chị không thể sinh con chung vì anh An bị vô sinh. Anh chị quyết định nhận con nuôi. Vợ chồng anh An chị Khánh tiến hành đầy đủ các thủ tục nhận cháu Chính là con chung của anh Hà và chị Thanh làm con nuôi chung của vợ vợ chồng. Sau khi cháu Chính chuyển về sống chung cùng anh An và chị Khánh 1 tháng thì anh Hà chị Thanh sang nhà anh An chị Khánh đòi lại con vì anh chị không thể sống xa cháu. Anh An chị Khánh không đồng ý trả con cho anh Hà chị Thanh. Cha mẹ ruột cháu Chính làm đơn yêu cầu Tòa án buộc anh Anh chị Khánh trả con cho mình. Theo các anh chị Tòa án giải quyết vụ việc như thế nào? Vì sao?. 19. Đề thi Luật Hôn nhân và gia đình lớp QTL42 – năm 2019 Cập nhật ngày 06/07/2019. Lớp Quản trị luật – Khóa 42 Thời gian làm bài 60 phút Sinh viên được sử dụng VBQPPL Nhận định Các nhận định sau đây đúng hay sai? Tại sao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời? 6 điểm 1 – Quan hệ hôn nhân chỉ được xác lập từ ngày các bên nam nữ thực hiện xong thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. 2 – Hội Liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định hủy kết hôn trái pháp luật. 3 – Chế độ tài sản pháp định xác định lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng. 4 – Tài sản theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu, trong Giấy chứng nhận quyền sở hữu chỉ ghi tên của một bên vợ hoặc chồng thì được xác định là tài sản riêng của bên đó. 5 – Con chung của vợ chồng trong trường hợp quan hệ cha mẹ con được xác lập dựa vào sự kiện sinh đẻ là con có cùng huyết thống với cha và mẹ. 6 – Người thứ ba cha, mẹ hoặc người thân thích khác của vợ hoặc chồng có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi bên vợ, chồng đó bị mất năng lực hành vi dân sự. Bài tập Ông Kiên và bà Duyên sống chung với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn từ ngày 02/06/1982. Hai ông bà có hai ngươi fcon chung là anh Quyền và chị Hà đều đã đạt tuổi thành niên. Tài sản mà ông bà tạo lập được trong quá trình sống chung gồm căn nhà cấp bốn năm trong diện tích đất 3000m2, trị giá cả nhà và đất khoảng 1,5 tỷ đồng và một số tài sản là động sản khác có giá trị khoảng 500 triệu đồng. Vào thời gian cuối năm 2018, ông Kiên và bà Duyên phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Ông Kiên làm đơn yêu cầu Tòa án ra quyết định không công nhận ông bà là vợ chồng vì họ sống chung không đăng ký kết hôn. Bên cạnh đó, ông cho rằng tài sản là nhà ở và quyền sử dụng đất có diện tích 3000m2 là tài sản riêng của ông do Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ ghi tên ông. Ông đưa ra yêu cầu Tòa án không chia phần tài sản này cho bà Duyên. Phần tài sản là động sản có giá trị 500 triệu, ông đồng ý chuyển cho bà Duyên. Bà Duyên cũng thể hiện ý muốn Tòa án giải quyết việc không công nhận ông bà là vợ chồng nhưng bà không đồng ý với cách giải quyết chia tài sản của ông Kiên, bà cho rằng bà có nhiều công sức đóng góp với khối tài sản nhà đất. Bà yêu cầu Tòa án chia đôi tài sản cho bà và ông Kiên. Theo anh chị Tòa án giải quyết vụ việc trên như thế nào? Tại sao?./. 20. Đề thi môn Luật Hôn nhân gia đình trường ĐH Luật TP. HCM Cập nhật ngày 05/01/2020. Thời gian làm bài 75 phút Sinh viên được sử dụng VBQPPL Nhận định Trả lời đúng sai kèm theo giải thích, nêu rõ cơ sở pháp lý các nhận định sau 6 điểm 1 – Quan hệ hôn nhân hợp pháp được thiết lập khi các bên chủ thể trong quan hệ hôn nhân thực hiện việc đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật. 2 – Chú ruột có nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu ruột khi họ sống chung với nhau. 3 – Chế độ tài sản theo luật định được áp dụng chỉ khi vợ chồng không lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận. 4 – Trong chế độ tài sản theo luật định thì tài sản chung của vợ chồng phải được phát sinh trong thời kỳ hôn nhân. 5 – Khi Tòa án giải quyết việc giao con cho vợ chồng nuôi trong trường hợp vợ chồng ly hôn, nếu con từ đủ 7 tuổi trở lên thì Tòa án giải quyết dựa trên nguyện vọng của người con này. 6 – Con nuôi đã thành niên và cha mẹ nuôi có thể chấm dứt việc nuôi con nuôi trên cơ sở tự nguyện của người con nuôi đã thành niên và cha mẹ nuôi. Bài tập Ông Hung và bà Bé chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 15/10/1987 mà không đăng ký kết hôn. Năm 1989, hai ông bà cùng quyết định mua một căn nhà cấp bốn nhỏ với diện tích 45m2 trên miếng đất diện tích là 80m2. Năm 1993, mẹ ông Hùng qua đời, ông được thừa kế số tiền 250 triệu đồng. Ông Hùng dùng số tiền nhận được này để xây lại ngôi nhà 3 tầng lầu trên toàn bộ diện tích miếng đất 80m2 tại địa chỉ số 34/2, phố X, quận Y, thành phố H để ông Hùng, bà Bé và hai người con của họ cùng ở. Năm 1994, ông Hùng và bà Bé được UBND phường nơi ông Hùng thường trú cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Đầu năm 2015 giữa ông Hùng và bà Bé phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng và bà Bé đã nộp đơn ra Tòa án yêu cầu giải quyết ly hôn và chia tài sản. Ông bà tranh chấp với nhau về căn nhà địa chỉ số 34/2, phố X, quận Y, thành phố H. Anh chị hãy sử dụng quy định của pháp luật để xác định hình thức sở hữu của căn nhà và cách chia tài sản này nếu Tòa án giải quyết ly hôn cho ông Hùng và bà Bé./. 21. Đề thi lớp AUF43 – 2020 Cập nhật ngày 22/06/2020. Thời gian làm bài 75 phút Sinh viên được sử dụng VBQPPL bằng giấy Nhận định Nhận định đúng sai, giải thích dựa trên cơ sở pháp lý 6 điểm 1/ Đối với ly hôn, không áp dụng chế độ đại diện trong việc yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn. 2/ Sau khi ly hôn, nếu một bên vợ, chồng khó khăn, túng thiếu, có yêu cầu cấp dưỡng và có lý do chính đáng thì bên kia có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình. 3/ Khi con nuôi có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của cha mẹ nuôi và có yêu cầu của cha, mẹ thì Tòa án cho chấm dứt việc nuôi con nuôi. 4/ Người đang có vợ hoặc chồng phải là người đã kết hôn với người khác theo đúng quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình nhưng chưa ly hôn. 5/ Cha mẹ là người giám hộ của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự. 6/ Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân làm chấm dứt chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định. Bài tập Ngân hàng Z nhận thế chấp quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị T bà T đứng tên một mình trên sổ đỏ đồng ý thế chấp cho ngân hàng đảm bảo cho khoản vay của Công ty A. Quyền sử dụng đất đứng tên bà T là tài sản do bà T và người chồng đã chết nhận chuyển nhượng của người khác. Bà T có một người con gái duy nhất là chị H 30 tuổi đang định cư ở nước ngoài. Sau khi kiểm tra, ngân hàng Z chấp nhận tài sản thế chấp của bà T đối với Công ty A và tiến hành giải ngân theo hợp đồng tín dụng đã ký. Do Công ty A làm ăn thua lỗ và mất khả năng thanh toán, nên việc thu nợ của Ngân hàng Z dựa vào tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất của bà T. Trong quá trình xử lý tài sản của bà T thì cô H đang định cư tại nước ngoài về Việt Nam khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng thế chấp ký giữa Ngân hàng Z và bà T vô hiệu vì tài sản thế chấp là tài sản chung giữa bà T và cô H cô H được thừa kế một phần tài sản của cha. Theo anh chị, Tòa án sẽ tuyên bố hợp đồng thế chấp trên vô hiệu toàn bộ hay một phần? Tại sao?./. THÔNG BÁO Nếu bạn có đề thi muốn chia sẻ hãy gửi cho chúng tôi qua email để chia sẻ cho các bạn học viên khóa sau nhé! Trân trọng!

luật hôn nhân và gia đình năm 1992